12:47 ICT Thứ tư, 16/10/2019

Các quỹ phát triển La Hà»Tủ sách dòng họ

Sự Học của người xưa.

Thứ hai - 21/03/2011 21:44
La Hà xưa, nay là Quảng Văn nổi tiếng là đất hiếu học, có thể ví sự kiên trì trong thi cử như cụ Trần Khắc Thận làm ví dụ điển hình. Trần Khắc Mẫn đi thi 8 lần đều không đỗ cử nhân. Cụ là em trai của cụ Trần Khắc Mẫn (đậu làm quan đến chức án sát). Sau 7 lần đều trượt cử nhân, lần thứ 8 cụ Thận lại đi thi, Ông anh cử nhân án sát bảo rằng “Chú không có số đại khoa, bởi học tài thi phận".

Nhưng cụ vẫn xin anh trai thi lại lần nữa, và lần thứ 8 cụ vẫn  đỗ tú tài. Sau đó triều đình xét thấy đức tính kiên nhẫn, hiếu học nên đặc cách cho đỗ cử nhân và bổ làm quan tri huyện và tặng cho câu đối rằng “Nhất cử thành danh thiên hạ hữu, bát khoa liên trúng thế gian vô” có nghĩa là: Thi cử một lần đỗ đạt ra làm quan thì thiên hạ có nhiều, còn thi 8 lần mà đỗ một bậc (bậc tú tài) thì thế gian chưa có.

Vào khoảng thế kỷ XV đến thế kỷ XVII, ở Quảng Văn đã có người học, nhưng trong xã không có trường, lớp, một số gia đình khá giả, hiếu học đã tự thuê thầy ở nơi khác về dạy, hay đi học nơi khác. Trong thời kỳ này con em của xã Quảng Văn cũng đã có một số dự thi hương và đậu tú tài, cử nhân. Nhưng đến cuối thế kỷ XVIII và hết thế kỷ XIX, việc học hành thi cử ở xã Quảng Văn phát triển rực rỡ.

     Số lượng học sinh của Quảng Văn đi học khá đông, điều kiện học hành rất khó khăn nhưng học sinh đã tìm mọi cách khắc phục để học, tự học, học ở bạn, học tại nhà. Các môn học trong thời kỳ phong kiến chủ yếu học về lý tưởng của nho giáo (tu nhân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ). Sách giáo khoa trong thời kỳ này có 2 loại: Sách do người Việt Nam soạn như  “Nhất thiên tự, Tam thiên tự, Ngũ thiên tự, Sơ học văn thâm, ấu học ngữ ngôn thi”. Sách do người Trung Quốc soạn như “Minh tâm bảo giám, Minh đạo gia huấn, tam tự kinh”.Những người được học ở trường Quốc tử giám (bậc đại học, các nho sĩ, đều bắt buộc học hai bộ sách cơ bản là ngũ kinh gồm: Kinh thư, Kinh thi, Kinh dịch, Kinh lễ và Kinh xuân thu, tứ thư gồm: Các loại sách luận ngữ, Mạnh tử, Trung dung và Đại học.

          Học và thi ở thời phong kiến do tiếp thu một khối lượng sách lớn mà phải thuộc lòng nên  đòi hỏi người học phải có trí nhớ tốt, thông minh mới đậu đạt. Việc thi cử phải tuân theo những quy tắc nghiêm ngặt. Điều đáng kỵ trong các bài thi là không được khiếm tỵ và phạm huý. (Câu chuyện đi thi của cụ Phạm Nhật Tân, làng La Hà, khi 16 tuổi cụ đi thi cùng với một nho sinh ở làng Lý Hoà-Bố Trạch thời vua Tự Đức. Bài của cụ đuợc Ban giám khảo chấm điểm cao hơn song do một từ phạm huý mà bị đánh trượt để cho anh nho sỷ làng Lý Hoà đạt giải nhất, cụ phải xuống hạng hai).

Chế độ thi cử thời phong kiến có hai chế độ thông dụng: Thi Hương (thi Tỉnh hay liên Tỉnh), người đậu kỳ thi hương được chia làm hai hạng: Cử nhân và tú tài (tương đương đại học và tú tài ngày nay). Những người đỗ đầu kỳ thi Hương gọi là Giải nguyên, những người đỗ kỳ thi Hương mới được vào thi Hội, đỗ kỳ thi Hội mới được vào thi Đình (thi Hội như là một kỳ sát hạch để thi Đình), người đỗ kỳ thi Đình gọi là tiến sĩ. Tiến sĩ được chia làm ba bậc gọi là tam giáp: Đệ nhất giáp, đệ nhị giáp, đệ tam giáp. Đệ nhất giáp được chia làm ba hạng (còn gọi là tam khôi). Hạng nhất là Trạng nguyên, hạng hai là Bảng nhản, hạng ba là Thám hoa, Người đứng đầu giáp thứ hai gọi là Hoàng giáp. Sau này nhà Nguyễn còn đặt thêm hiệu phó bảng cho những người đã được thi đậu kỳ thi Hội.

     Mặc dầu điều kiện kinh tế của vùng sông nước khó khăn, vất vả. Việc học hành khoa cử vào thế ký XVIII, XIX của chế độ phong kiến nói chung có nhiều xu hướng sa sút nhưng mỗi con người Quảng Văn, bằng sự nỗ lực cố gắng của bản thân và gia đình, thi đua đèn sách của các nho sĩ,việc học đã trở thành truyền thống của con em trong làng, cũng cần nói thêm rằng: Đất Quảng Văn nghèo nhưng hiếu học, điều này đã dẫn đến các thành tích khoa bảng làm cho người đời phải thán phục.

     Các kỳ thi triều Nguyễn, huyện Quảng Trạch có 15 vị đại khoa, riêng Quảng Văn có 6 vị, chiếm nhiều nhất trong huyện. Thống kê trong các kỳ thi Hương (có người Quảng Bình tham dự) từ năm Quý Dậu 1813 đến năm Mậu ngọ 1918, có 270 vị đỗ cử nhân, trong đó Huyện Quảng Trạch có 113 vị, xã Quảng Văn có 32 vị, cũng chiếm số lượng nhiều nhất so với các địa phương trong huyện.

     Với việc đỗ đạt của nhiều dòng họ như vậy có ý nghĩa rất lớn, vượt ra ngoài phạm vi của một xã, một huyện, một tỉnh. Việc chăm học hiếu học, dùi mài kinh sử của các thế hệ người dân La Hà, Văn Phú. Một làng quê nghèo khó cách đò trở giang, vượt qua nghèo khó, kiên trì chịu đựng, thi đua lẫn nhau trong dòng họ, giữa các dòng họ để học tập. Sự nghèo khó không làm nản chí, xao lòng các nho sĩ trong học hành, đó là nguồn cội xây đắp nên truyền thống khoa bảng của người dân Quảng Văn. Con cháu các dòng họ nay vẫn lưu truyền về đức tính hiếu học của cha ông mình như các bậc Tiến sĩ, cử nhân tiền bối: Tạ Hàm, Phạm Nhật Tân, Trần Thống, Trần chuẫn, Trần Khắc Hệ, Trần Khắc Mẫn, Trần Khắc Thân, Trần Khắc Khoan( Thôn La Hà ), Phạm Nhật Khánh, Phạm Hóa ( Thôn Văn Phú). Một số nho sĩ ngày xưa quá nghèo không có tiền mua giấy, mua dầu, chỉ đứng nghe trộm thầy giảng bài và tìm cách nhớ, hoặc lấy mo nang tre làm giấy viết. Đêm về bắt đom đóm bỏ vào bong bóng lợn để thay đèn ngồi học. Nhờ thế mà có người đã thi đậu  tiến sĩ, cử nhân. Sự kiên trì trong thi cử như cụ Trần Khắc Thận, thi 8 lần đều không đỗ cử nhân. Cụ là em trai của cụ Trần Khắc Mẫn (đậu làm quan đến chức án sát). Sau 7 lần đều trượt cử nhân, lần thứ 8 cụ Thận lại đi thi, Ông anh cử nhân án sát bảo rằng “Chú không có số đại khoa, bởi học tài thi phận". Nhưng cụ vẫn xin anh trai thi lại lần nữa, và lần thứ 8 cụ vẫn  đỗ tú tài. Sau đó triều đình xét thấy đức tính kiên nhẫn, hiếu học nên đặc cách cho đỗ cử nhân và bổ làm quan tri huyện và tặng cho câu đối rằng “Nhất cử thành danh thiên hạ hữu, bát khoa liên trúng thế gian vô” có nghĩa là: Thi cử một lần đỗ đạt ra làm quan thì thiên hạ có nhiều, còn thi 8 lần mà đỗ một bậc (bậc tú tài) thì thế gian chưa có.

Lịch sử “lều chõng” Quảng Bình dưới triều vua Tự Đức năm thứ tư (1851) trong kỳ thi Hội năm Tân Hợi đã ghi nhận một bảng vàng rực rỡ nhất cho Huyện Quảng Trạch là cả Tỉnh Quảng Bình  chỉ có 3 tiến sĩ mà Quảng Trạch chiếm cả 3, trong đó Quảng Văn chiếm 2 vị, hai vị đó là hai thầy trò cùng thi với nhau một lần, cùng đậu với nhau một khoa, điều mà các triều đại phong kiến ngày xưa cho là quý hiếm. Ba vị tiến sĩ ấy là: Nguyễn Văn Thành thôn Lộc Điền, Phạm Nhật Tân, Trần Văn Hệ, người thôn La Hà xã Quảng Văn. (Ông Phạm Nhật Tân là thầy dạy của ông Trần Văn Hệ, thầy năm ấy 41 tuổi, còn trò mới 24 tuổi ).   

Tác giả bài viết: Trần Tuấn Anh

Nguồn tin: LỊCH SỬ ĐẢNG BỘ XÃ QUẢNG VĂN ( 1930-2000 )

vantaitrancoi- - 22/11/2012 02:54
cam on TRAN TUAN ANH , bai viet that co y nghia giup cho chung ta nhan thuc sau sac ve tinh than ham hoc, vuot kho , thong minh cua cha ong minh. xin chan thanh cam on
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới