11:17 ICT Thứ tư, 16/10/2019

Giới thiệu»Quảng Văn ngày nay

QUẢNG VĂN VÙNG ĐẤT VÀ CON NGƯỜI

Chủ nhật - 13/02/2011 20:40
Quá trình hình thành và phát triển của xã Quảng Văn, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.

 


Cách cầu Gianh trên đường Quốc lộ số 1A xuyên Bắc - Nam chừng 500m về phía Tây. Sông Gianh chia làm 2 nhánh. Một nhánh Nguồn Son từ phía Phong Nha đổ về và một nhánh Nguồn Nậy (nguồn lớn) bắt nguồn từ Hương Khê, Hà Tĩnh, Giữa ngã ba sông Gianh do 2 nguồn nhập lại tạo thành  một bãi nổi lớn, cư dân sinh sống đông đúc và có một lịch sử văn hoá lâu đời, đấy gọi là xã Quảng Văn ( Gồm  La Hà và Văn Phú) thuộc huyện Quảng Trạch, Tỉnh Quảng Bình. Do địa lý tự nhiên, các nhánh của nguồn Son và nguồn Nậy trước khi hoà vào nhau để đổ ra biển, phân ra các nhánh phụ tạo thành các cồn bãi. Bên cạnh Quảng Văn có Cồn Bông, Cồn Vượn, cồn Kéec, Cồn Nổi, Cồn Dâu... như những hòn ngọc lung linh, kỳ ảo giữa dòng sông Gianh trong xanh. Nước sông ở đây mặn và mực nước phụ thuộc vào thuỷ triều lên xuống của biển. Các dòng chảy cũng vì thế mang tính chất đối lưu của dòng thuỷ triều. Bất kể thuỷ triều lên hay xuống các dòng chảy sát hai bờ phía bắc và phía nam của xã Quảng Văn đều chảy ngược từ biển lên và dòng chảy của con sông nhỏ đầu làng xuất phát từ phía nam chảy ra phía bắc. Cũng chính vì điều này ngày xưa các cụ gọi nơi đây là chốn "Thuỷ ngược triều Đông". Bốn nhánh sông phụ đều có hướng đổ về xã Quảng Văn như bốn ngọn bút cắm vào lọ mực, năm nhánh sông này kể cả dòng lớn đổ ra biển đã khiến người xưa coi nơi đây là một hạt châu để năm con rồng cùng vui đùa thưởng ngoạn. Thế đất "Tứ Bút châu nghiên" và "Ngũ Long tranh châu" đã làm cho các cụ ngày xưa luôn tự hào về làng mình và luôn coi đó là sự khởi nguồn cho các thành tích khoa bảng của những bậc tiền bối. Nhìn tổng quan thế đất của các xã vùng Nam Quảng Trạch từ trên vệ tinh chụp xuống thì cả vùng giống hình con Đại bàng, mà xã Quảng Văn nằm vị trí phần đầu con chim đại bàng ấy.

      Trong hệ thống các cồn bãi giữa dòng sông Gianh  thì xã Quảng Văn là bãi lớn nhất và có dân cư sinh sống lâu đời. Phía Bắc có bãi bồi, phía Nam có dòng chảy lớn gây xói lở. Nên ngày xưa các cụ đã trồng cây phía Bắc và kè đá ở phía Nam làng (Nam thạch bắc thụ). Người dân ở đây đã khai phá đất, dựng thôn, lập xóm, phân định ranh giới các xóm theo quy định hành chính và phát triển đến ngày nay. Trong dân cư Quảng Văn từ ngày xưa đã lưu truyền một câu ca để khẳng định địa giới hành chính của làng mình: "Tứ Hải phù sa, La Hà địa phận".

Diện tích xã Quảng Văn khoảng 4,2 km2, qua sông về phía Bắc là thị trấn Ba Đồn, phía Nam là xã Mỹ Trạch của huyện Bố Trạch, phía Đông là Thuận Bài thuộc xã Quảng Thuận, phía Tây là các xã Quảng Hoà, Quảng Lộc, Quảng Minh thuộc vùng Nam Quảng Trạch. Do ảnh hưởng của nước thuỷ triều và các con lũ nhiều phù sa từ thượng nguồn sông Gianh đổ về, nên thổ nhưỡng của Quảng Văn không đồng nhất, việc phân bố ngành nghề, lao động trong thôn cũng có phần nào bị ảnh hưởng đến điều này.

Là một xã nằm giữa ngã ba sông Gianh gần đường quốc lộ 1A, Quảng Văn trở thành một vị trí quan trọng trong lịch sử dân tộc. Thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh Quảng Văn trở thành khu đệm giữa đàng trong và đàng ngoài. Thời kỳ chống pháp Quảng Văn là khu vực để cán bộ cách mạng nằm vùng, điều tra thăm dò lực lượng địch, báo tin cho chiến khu thực dân Pháp chọn Quảng Văn làm bàn đạp đổ quân tấn công các xã vùng Nam Quảng Trạch. Thời kỳ chống Mỹ cứu nước Quảng Văn là  một trong những nơi trú các tàu Hải quân xuất kích đánh máy bay và tàu chiến Mỹ, đóng quân của đơn vị công binh rà phá thuỷ lôi, đơn vị Phà Gianh. Quảng Văn còn là điểm nối quan trọng cho các tàu thuyền vận chuyển vũ khí lương thực, thực phẩm từ bến Phà Gianh lên Xuân Sơn vào đường Hồ Chí Minh, từ mạn Tuyên Hoá sang Bố Trạch, chính vì thế  trở thành trọng điểm đánh phá của đế Quốc Mỹ .

Do ảnh hưởng của vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết khắc nghiệt nắng nóng và bảo lụt là hai đặc trưng điển hình ảnh hưởng đến cuộc sống cư dân Quảng Văn. Mùa hè nắng nóng từ tháng 4 đến tháng 7, nhiệt độ có lúc lên 390c  và ảnh hưởng gió mùa Tây Nam khô hanh. Quảng Văn nằm giữa ngã ba sông nước mặn kết hợp nắng nóng nên nguồn nước ngọt để sinh hoạt, ăn, uống rất khan hiếm. Trong những ngày hè nóng nực, người dân ở đây phải mua nước ngọt từ Bố Trạch chuyển về. Mùa mưa lũ tập trung chủ yếu vào tháng 7 đến tháng 10. Với địa hình thấp lại nằm giữa sông nên lụt, bão thường xuyên đe doạ cuộc sống người dân. Mùa hè đến, Quảng Văn lại được hưởng không khí trong lành,  mát mẽ của những luồng gió đông từ biển thổi vào, nguồn thuỷ hải sản dồi dào, chính vì thế người dân Quảng Văn tuổi thọ khá cao, bình quân70 tuổi.

Xã Quảng Văn có hai thôn: Thôn La Hà và thôn Văn Phú. Thôn La Hà nằm ở phía Tây, chủ yếu sống bằng nghề nông, thủ công nghiệp. Thôn Văn Phú nằm ở phía Đông, sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản.

Diện tích của thôn La Hà 3 km2, chiếm 3/4% diện tích của cả xã và được chia làm 2 khu rõ rệt. Khu dân cư và khu trồng trọt.

Từ thế kỷ thứ XVIII thôn La Hà (La Hà châu) đã có 6 xóm: Xóm Đình, Xóm Voi, xóm Tây, xóm Bắc, xóm Đông và xóm Trung. Xóm Đình là nơi có đình làng. Sự hình thành của Xóm Voi: Tương truyền trong dân gian kể lại rằng: Khi Nguyễn Huệ hành quân ra Bắc, vượt qua sông Gianh, không may có một con voi chiến chết tại đây. Chính vì vậy, dân làng mới đặt tên là xóm Voi. Cũng có người cho rằng có một con cá Ông (cá voi) chết ngoài biển trôi vào đây, được dân làng vớt lên mang sang cồn nỗi chôn cất và xây miếu thờ. Từ đó xóm này có tên là xóm Voi, còn nguồn gốc tên gọi như thế nào thì chưa ai khẳng định một cách chắc chắn.        

Từ những năm của thế kỷ XV-XVI,Văn Phú là một khu vực khoảng chừng 2 ha ở phía Đông của xã, cây cối mọc um tùm. Đến thế kỷ XVIII, dân cư mới vào định cư, khai phá. Đầu thế kỷXIX đến thế kỷ XX, do sự bồi đắp phù sa của hai nhánh sông Nguồn Son và sông Nguồn Nậy, khu vực đất Văn Phú được bồi đắp và mở rộng kéo dài xuống tận Doi, rộng khoảng 10ha. Địa hình khá thấp, đất nhiễm mặn, không có điều kiện canh tác trồng trọt. Cư dân Văn Phú lúc đầu làm nghề chài lưới đi thuyền trên sông, nhưng dần dần dân số tăng, họ đã chọn khu đất này làm nơi cư trú dựng nhà cửa, hình thành thôn, xóm.

Doi đất phía Nam của thôn (xóm Doi) có địa hình thấp, cách thôn Văn Phú một con rạch nhỏ, những khi mưa lũ hoặc triều cường đột xuất (nhân dân gọi là lụt nước mặn) thường bị ngập trong nước. Ngày xưa khu đất này chỉ là một bãi hoang, năn, lác mọc dày đặc. Từ năm 1999 được Nhà nước hỗ trợ vốn, nhân dân đã cải tạo khu vực này thành ao hồ, nuôi trồng thuỷ sản (tôm, cua) thu nguồn lợi kinh tế cao.

Đa số người dân của thôn Văn Phú theo tín ngưỡng Thiên chúa giòng Ki Tô, đi lễ, cầu kinh, sống theo lời răn của Chúa và tuân theo pháp luật hiện hành. Bỏ qua những hiềm khích tôn giáo do bọn phản động tuyên truyền trước đây, ngày nay cuộc sống trong thôn an bình, hoà thuận, không phân  biệt lương giáo, mặc dù đây là thôn công giáo toàn tòng. Trong thôn có nhà thờ được xây dựng từ xưa và được tu bổ khang trang sạch-đẹp, các con chiên đi thăm lễ và thuộc kinh phúc âm.

Cồn nổi: Có diện tích gần 3ha, nằm phía Tây-Nam của làng, từ những năm đầu của thế kỷ XIX, cồn đất này chỉ là một bãi cát thấp, khi nước thuỷ triều lên ngập gần hết. Do quá trình bồi đắp phù sa nguồn Son, đến những năm đầu thế kỷ XX cồn đất này được bồi đắp lên cao, mùa lũ mới bị ngập nước. Dân làng  thường khai khẩn trồng trọt vào vụ hè.Thực hiện cơ chế mới, năm 1995, chính quyền địa phương xã Quảng Văn  cho đấu thầu sản xuất lâu dài. Hai gia đình trúng thầu đã cải tạo, mở rộng, cây trồng chủ yếu là ngô, lạc, cà, dưa, ớt ...

            Cồn Bông: Nằm phía Tây, hơi chếch hướng Nam của làng, là bãi nổi của dòng sông Son, song song với cồn Nỗi về phía Bắc, giáp với cồn Vượn. Diện tích cồn rộng khoảng 6ha. Đất đai màu mỡ, ngày xưa dân thôn La Hà trồng bông dệt vải, ngày nay cây lúa, khoai, ngô, lạc đã dần thay thế cây bông, nhưng cồn vẫn có tên gọi là cồn Bông. Địa thế cồn Bông cao hơn cồn Nỗi nên dân làng đã khai khẩn, trồng trọt từ thế kỷ XVII.

            Cồn Vượn: Nằm về phía Tây của làng, là doi đất kéo dài của xã Quảng Minh, Quảng Hoà. Mũi cồn song song với cồn Bông và hướng về đầu làng. Diện tích khoảng 10 ha, địa hình chia ra 2 bậc rỏ rệt, phía trên cao thích hợp trồng màu và lúa vụ mười, phía dưới thấp chỉ trồng được lúa nước một vụ. Địa thế đất vùng cao này trông giống như một con hạc chầu, chất đất rắn khô nên dân xóm Tây của thôn La Hà chọn làm nghĩa địa. Đây là khu đất liền nên dân làng đã khai khẩn trồng lúa, khoai từ thế kỷXVI, ngày nay do làm tốt công tác thủy lợi nên vùng đất này trồng lúa hai vụ, cho năng suất cao.

            Doi Phù Trịch: Vào khoảng thế kỷ XIX, một số dân La Hà sang khai hoang phục hoá vùng đất phía dưới thôn Phù Trịch thuộc xã Quảng Lộc, diện tích khoảng 4ha. Đất đai ở đây không được tốt, lại cách sông nên những người canh tác ở đây phải dựng lán trại để bảo vệ hoa màu. Năm 1997, một gia đình ở thôn La Hà đã đấu thầu canh tác số diện tích đất này trong 20 năm.

            Cồn Keéc: Là cồn đất có diện tích khoảng 10ha, nằm phía Đông-Bắc thôn về phía thôn Văn Phú, cách thôn Thổ Ngoã của xã Quảng Thuận một con hói nhỏ của dòng sông Nguồn Nậy. Thế kỷ XVI, người dân ở thôn La Hà vượt sông sang khai khẩn vùng đất này nhưng đến thế kỷ XIX một phần do việc đi lại qua sông khó khăn, phần khác do tranh chấp giữa Thổ Ngoã (xã Quảng Thuận bây giờ) và La Hà, nên  người dân La Hà không tiếp tục canh tác nữa mà nhường lại cho Thổ Ngoã, vì vậy ngày nay cồn đất này không thuộc xã Quảng Văn mà do xã Quảng Thuận quản lý.

            Cồn Dâu: Nằm phía Đông-Nam của thôn, về phía sông nguồn Son, giáp với xã Hạ Trạch của huyện Bố Trạch. Thế kỷ XVIII những cư dân La Hà cũng vượt sông khai khẩn, nhưng do đi lại cách trở và diện tích khai khẩn ít, đất đai không được màu mỡ nên việc quản lý không được thuận lợi, đến đầu thế kỷ XX, cồn đất này giao lại cho xã Hạ Trạch quản lý.

              Quảng Văn được bồi đắp trong quá trình kiến tạo của đồng bằng ven biển trong kỷ địa chất thứ 4 và kéo dài cho đến sau này (khi biển lùi xa do sự thay đổi của bề mặt trái đất). Mãi đến khoảng thế kỷ XIII, Quảng Văn cũng như các địa phương khác trong vùng Quảng Trạch, Quảng Văn chỉ là cồn đất hoang sơ không có dân cư trú và sinh sống, chỉ là những lùm cây cối mọc um tùm. Đến thế kỷ XIV, sau khi nhà Trần, nhà Hồ đánh chiếm được đất Chăm Pa, Quảng Trạch mới thuộc Đại Việt. Đến năm thứ 3 Hồng Đức, cùng với dòng người di cư từ phía Bắc vào. Ông tổ họ Lưu đặt chân lên đất La Hà đầu tiên để khai khẩn định cư, nhưng không dừng lại ở La Hà mà vượt sông sang cư trú ở bờ Nam sông Gianh, vùng đất Cao Lao Hạ (nay thuộc xã Hạ Trạch huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình). Sau đó ít lâu, ông tổ họ Dương(Dương Văn Cốc), họ Nguyễn( Nguyễn Văn Khôi) từ Nghệ An vào khai phá vùng cồn bãi La Hà. Tiếp sau đó là ông tổ họ Mai (Mai Văn Minh), ông tổ họ Phạm (Phạm Trọng Mưu), Ông tổ họ Trần (Trần Hữu Lễ) và Trần Hoát Đạt từ Kỳ Anh, Hà Tĩnh,. Ông tổ họ Tạ (Tạ Kim Cảnh) từ Diễn Châu, Nghệ An vào. Lần lượt các Ông  tổ  họ khác vượt nhánh Sông Gianh dừng chân ở lại  khai khẩn vùng đất này, xây dựng cồn đất giữa ngã ba sông thành làng La Hà nay thuộc xã Quảng Văn bây giờ. Sau một thời gian định cư, lập nghiệp, Ông tổ họ Dương và họ Nguyễn không có con nối dõi tông đường nên khi mất dân làng lập miếu thờ, xây mộ ở gần chợ Mai (gọi là nghĩa Trũng). Còn lại năm họ: Mai, Phạm, Trần (Trần Côi), Trần (Trần Dưới), Tạ, con cháu đông đúc. Đến năm Lê Thánh Tông thứ 16 (1640-1697) nhà Vua cho lập làng lấy tên là La Hà xã (với nghĩa là làng bao bọc bởi sông nước). Cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷXVIII một số họ nhỏ lần lượt vào sinh sống như họ Mai con, họ Hoàng và hai họ Trần con...

            Vào khoảng đầu thế kỷ XVIII, có hai người của họ Phạm, họ Hoàng ở xã Xuân Trường, Nghi lộc, Nghệ An sống bằng nghề chài lưới, do sơ suất khi đun nước nấu để nhuộm lưới làm cháy đình làng, lo sợ bị phạt nên hai người trốn vào sinh sống ven sông Gianh làm nghề đánh cá và xin trú ngụ tại ven bờ cồn Nỗi La Hà vùng đất phía Đông làng. Mãi về sau này họ sinh con đẻ cháu, dần dần xóm nhà sầm uất và trở thành thôn Văn Phú. Sau họ Phạm, họ Hoàng có họ Hồ cũng di trú vào đây khoảng thế kỷ XIX, khi Hồ Sĩ Tạo vào làm quan ở Quảng Bình lấy vợ họ Phạm thôn Văn Phú, sinh con, cháu về quê ngoại sống nên có dòng họ Hồ ở Quảng Văn( Theo gia phả của gia đình Hồ Đôn ở thôn Văn Phú ).

            Lúc mới lập làng, dân cư còn ít ỏi. Mỗi dòng họ chỉ có 4 đến 5 người. Nhưng dần dần khi định cư thành làng, xóm, số dân đã đông dần lên tới 300 người. Còn Văn Phú đến thế kỷ XVIII mới có tên với số dân vài chục người. Đến nay dân số xã Quảng Văn tính theo điều tra dân số tháng 1/2000 toàn xã có 5.760 nhân khẩu.

      Bộ máy Chính quyền xã Quảng Văn được thiết lập từ khi Nhà Lê công nhận Quảng Văn là một đơn vị hành chính địa phương nằm trong tổng  Quảng Trạch. Đến thế kỷ XVIII, cả làng có 2 thôn: Thôn La Hà có  5 xóm, thôn Văn Phú có 2 xóm. Đứng đầu là Lý trưởng cai quản chung.

      Năm 1945, nhập Giáp Tam, Văn Phú, thành xã Hà Châu, với số dân khoảng 2.000 người. Đến 1947, sát nhập với Quảng Hoà, Quảng Lộc thành xã Ninh Trạch. Tháng 12 năm 1955, La Hà, Văn Phú tách khỏi xã Ninh Trạch mang tên mới là Quảng Văn cho đến ngày nay.

            Do đặc điểm địa hình tự nhiên của một xã bốn bề sông nước bao quanh, lại bị nhiễm mặn của biển, nguồn nước ngọt để phục vụ cho nông nghiệp phải tuỳ thuộc vào thiên nhiên, nên người dân Quảng Văn phải xoay xở bằng nhiều nghề để trang trải cuộc sống hằng ngày, tuy vậy nghề chủ yếu vẫn là nghề nông nghiệp sản xuất lương thực, và nghề đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản

      Cư dân La Hà sống chuyên dựa vào nghề trồng trọt. Trồng lúa nước cũ (lúa nước hai) và trồng khoai vụ chiêm, trồng lúa vụ mười. Ngoài ra đất vườn còn trồng dâu, bông, ngô, vừng, ớt, các loại rau... Bên cạnh trồng trọt còn phát triển chăn nuôi, trâu, bò, lợn, gà, vịt. Do địa hình bao quanh là nước mặn lại hay bị hạn hán, bão lụt nên công tác thuỷ lợi chống hạn, chống úng là vấn đề cấp thiết nhất trong kinh tế nông nghịêp, trong đó coi việc xây dựng, bảo dưỡng  hệ thống đê bao ngăn mặn là nhiệm vụ cấp thiết hàng năm của nhân dân xã Quảng Văn. Bốn phía làng là những công trình mang tính cộng đồng khá chặt chẽ. Thời phong kiến, có những quan trông coi công tác thuỷ lợi gọi là “Hà đề thống sứ”. Sau hoà bình lập lại dân làng thường lập những đội thường trực trông coi công tác thuỷ lợi. Một hệ thống các đê kè đá khu vực phía Bắc thôn nhằm lấn ra sông, giữ nước trồng lúa nước hai đã phát triển trong thời kỳ phong kiến và sau hoà bình lập lại.

Ngày nay, nhờ hệ thồng thuỷ lợi của Nhà nước hỗ trợ, xã Quảng Văn đã bắt đầu có nước ngọt từ Rào Nan về, tuy chưa nhiều, chưa đủ nhu cầu chỉ đạt 2/3 diện tích được tưới. Song đây là một bước đột phá đáng kể để cải thiện về nông nghiệp của xã Quảng Văn.

            Cùng với nghề nông nghiệp, nghề ngư cũng khá phát triển, thôn La Hà chỉ có một số người duy trì với tính chất nghề phụ bên cạnh nghề nông nghiệp, như đánh đơm, kéo lưới, kéo vó sông, ao, hồ.

       Người dân ở thôn Văn Phú sống chuyên bằng nghề đánh bắt cá sông, dụng cụ đánh bắt cá khá đa dạng như rớ, đáy, lưới bén, câu, chài...  Tuy vậy, kỷ thuật chủ yếu là thủ công nên năng suất đánh bắt thấp, địa bàn khai thác chỉ hạn chế trên sông. Ngày nay với cơ chế làm ăn mới, người dân đã mạnh dạn đầu tư kinh phí và tiến ra biển với phương tiện đánh bắt hiện đại hơn như dạ đôi, tàu ghe lớn.Thôn Văn Phú nay đã có trên 50 tàu đánh bắt cá biển, thu nhập hàng năm trên 200 tấn thuỷ sản.

      Cũng như nhiều thôn xã khác của vùng Nam Quảng Trạch, theo các cụ kể lại thì thôn La Hà ngày xưa bên cạnh nông nghiệp sản xuất, họ còn duy trì nghề phụ là dệt vải, nghề này xuất hiện trước năm 1930 và phát triển mạnh những năm 1940 trở đi. Nguyên liệu bông do nhân dân tự trồng ở cồn Bông hoặc dùng sợi bông gòn, hoặc mua bông những nơi khác về. Dụng cụ dệt vải là các dụng cụ thô sơ như khung cửi, doi (soi)...  Vải dệt ra loại vải thô, kỷ thuật không tinh xảo, hàng làm ra được bán ở chợ Ba Đồn hoặc chợ Mai.

      Nghề làm nón ra đời sau nghề dệt vải, xuất hiện trước năm 1945 (sau thôn Thuận Bài) và tồn tại song song với nghề dệt vải. Theo sự phát triển của xã hội và nhu cầu tiêu dùng, số lượng người làm nón ngày một nhiều, đặc biệt sau hoà bình lập lại năm 1954, nghề làm nón đã phát triển thay thế cho nghề dệt vải. Người dân Quảng Văn làm nón ‘’thưa’’, nón "Dày" hoặc nón “Đặt” (nón có sự gia công nhiều hơn) bằng sợi móc trên rừng, sau này sợi móc được thay bằng sợi cước. Nón bán cho cửa hàng là loại nón thưa và nón dày. Nón đặt chiếm 1/3 trong tổng số nón  bán ra, Năm 1966, nghề làm nón được phát triển mạnh nhất, gần 100% dân La Hà đều tham gia làm nón, mặc dầu nón là nghề phụ song số lượng làm khá lớn, có gia đình 5 người làm một ngày được 25-30 cái thu nhập trên 50.000đ/ngày. Có nhiều năm nghề nông thất bát thì nghề làm nón trở thành nghề chính nuôi sống dân ‘’Làng Đảo’’, nghề truyền thống đó vẫn được người dân Quảng Văn duy trì và phát triển đến bây giờ.

      Nghề làm mặt mây xuất khẩu bắt đầu từ năm 1963 do Công ty Ngoại Thương Quảng Trạch cử đồng chí Trần Mại, cán bộ Ngoại Thương quê La Hà đi học kỷ thuật ở Hà Nam về phổ biến cho dân xã Quảng Trung và Quảng Văn. Song xã Quảng Trung triển khai không đồng bộ và người dân không đầu tư nên nghề mặt mây xuất khẩu không thành. Chỉ còn nhân dân xã Quảng Văn tiếp thu nghề, duy trì phát triển đến ngày nay. Người thực hiện thành công nghề mặt mây xuất khẩu đầu tiên ở xã Quảng Văn là các ông Trần Thỏn (Châu Thỏn), Trần Hoàng (Việt Hoàng) và Phạm Anh (ông Kiều).

            Lúc đầu làm với kỷ thuật đơn giản, sản phẩm là mây nong mốt. Do quá trình suy nghĩ sáng tạo, năng suất lao động được tăng nhờ cải tiến công cụ làm việc. Người sáng chế bào mây đầu tiên theo chiều xiên là anh Nam, người Quảng Nam nhà ở Ba Đồn sang Quảng Văn tham gia làm mây và đã thành công chiếc bào xiên, làm tăng năng suất sản phẩm gấp nhiều lần làm bằng tay.

      Do nhu cầu nhập hàng của nước bạn, yêu cầu kỷ thuật của mặt mây xuất khẩu ngày một cao hơn, kích thước mặt mây luôn luôn thay đổi cả về chiều ngang lẫn chiều dài, mặt mây có đan xiên hai mặt. Năm 1966, do chiến tranh ác liệt, nghề mây tạm dừng sản xuất, nhưng những năm sau 1975, nghề làm mặt mây xuất khẩu phát triển mạnh mẽ. Đặc biệt sau năm 1990, thực hiện chính sách mở cửa, hàng mặt mây xuất khẩu được nhiều nước đặt mua nên nghề này phát triển thuận lợi, có 90% dân số tham gia sản xuất. Nghề sản xuất mặt mây đã thu hút được lao động từ người già đến trẻ nhỏ, các dụng cụ sản xuất như chẻ mây, bào mây, chuồn mây đã không ngừng cải tiến, rất nhiều gia đình đạt được kỷ xảo điêu luyện và có nguồn lợi thu nhập khá cao. Hàng năm, người dân thôn La Hà của xã Quảng Văn đã sản xuất hàng vạn m2 mặt mây xuất khẩu góp phần tạo thế mạnh xuất khẩu cho Huyện nhà. Nghề mặt mây đã giúp người dân Quảng Văn làm được nhà cửa khang trang, mua sắm được các phương tiện nghe nhìn, đi lại, đời sống người dân ngày một đầy đủ hơn.        

      Ngoài nghề mặt mây xuất khẩu, làm nón, dân Quảng Văn còn phát triển các nghề khác như: Nề, mộc, chạm, rèn, nguội, đan lát. Các nghề này chiếm tỷ lệ ít, nghề thợ mộc phát triển nhiều là nghề đóng và sửa chữa thuyền, La Hà chủ yếu là đóng các thuyền vận tải còn Văn Phú thì đóng cả thuyền vận tải và tàu đánh cá xa bờ. Thợ mộc ở La Hà có Trần Hoài, Trần Tý, Trần Lân nỗi danh là thợ chạm trong vùng. Thợ nguội có Mai Đoàn, nghệ nhân khảm chạm nỗi tiếng ở Văn Phú có cụ Hoàng Sị.

       Trung tâm buôn bán, thương mại của Quảng Văn là Chợ Mai, chợ được nhóm ven sông, thuyền bè đi lại buôn bán thuận lợi, trên bến dưới thuyền tấp nập, hàng từ trên xuống, hàng từ dưới lên, hàng hoá chủ yếu là nông sản phẩm, gạo, khoai, màu, thực phẩm, cá thịt và hàng tiêu dùng.

      Để tăng cường giao lưu thương mại, xã Quảng Văn có những đội thuyền vận tải biển và sông, nơi giao dịch buôn bán với các tỉnh bạn như Thanh Hoá, Nghệ An, Hải Phòng, lao động chuyên trách công việc này chủ yếu ở thôn Văn Phú. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ những đội thuyền vận tải của xã Quảng Văn cũng tham gia chở hàng lương thực, vũ khí để phục vụ kháng chiến. Ngày nay, đội thuyền vận tải được cũng cố, được trang bị bằng máy móc và phát triển hơn trước, phục vụ đắc lực công cuộc Công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn và phát triển kinh tế xã nhà.           

      Bốn bề sông nước lại gần biển Đông, nên truyền thống văn hoá của xã Quảng Văn hình như có tiếng rì rầm của biển lúc đêm đông và tiếng “Gõ reo” đuổi cá sôi nổi của vạn chài râm ran trên mặt sông vào những đêm hè thanh vắng. Quảng Văn đã sản sinh và nuôi dưỡng một nền văn hoá dân gian độc đáo, giàu sức sáng tạo và trí tưởng tượng.Với những bài thơ câu ca, những điệu hò, câu ví, ca ngợi cuộc sống lao động cần cù cũng như tinh thần đấu tranh anh dũng bảo vệ quê hương, xóm làng, lên án những thói hư tật xấu trong xã hội, ca ngợi tình yêu đôi lứa, sáng tạo vượt khó trong sản xuất, đồng thời gây những tiếng cười sảng khoái động viên mọi người lúc lao động mệt nhọc.

            Nhiều thể loại được sáng tác mang đặc trưng của hò mái nhì, mái đẩy và vè truyền thống Nghệ Tĩnh. Các thể loại phú, bài cúng, văn tế cũng lưu truyền rộng rãi trong thôn xóm, như những bài thơ ca, hò, vè, phú do dân làng sáng tác đặc biệt những bài  thơ “Ca ngợi cảnh đẹp La Hà”, “Tả đường thôn”, vè “Thi hỏng”, “Gái làm mọn chồng người”, “Khuyên em gái”, “Ngó về chợ hãy còn đông”, ví dặm “ Đi hỏi vợ”... Những chuyện huyền thoại về thần đồng Trần Văn Thống hay huyền thoại về danh tướng Mai Hữu Tập. Chuyện đi sứ và được phong tiến sĩ lưỡng quốc của cụ Trần Chuẩn, cũng được sáng tác để ca ngợi sự học hành và giỏi võ của các bậc danh nhân của xã Quảng Văn xưa.

        Người dân Quảng Văn có nhiều lễ hội trong năm, như những cư dân nông nghiệp khác, lễ cúng đầu năm, rằm tháng giêng, mồng 5, rằm tháng 7, lễ cầu yên. đặc biệt vào rằm tháng giêng hàng năm, Hội đồng hương lý do Ông lý trưởng đứng đầu tổ chức lễ hội  tết Nguyên tiêu. Các dòng họ trong làng làm mâm cỗ vào Đình cúng Thần Hoàng. Theo hương ước của làng các dòng họ vào cư trú tại làng đều phải làm thủ tục xin nhập làng và được Hội đồng hương lý đồng ý mới cho làm cỗ cúng Thần hoàng như các dòng họ khác vào trước. Tại sân Đình làng trong ngày tết nguyên tiêu dân làng tập trung tổ chức những trò dân gian như chọi gà, cờ người, kéo co, đấu vật, hát bội, tuồng cổ, đua thuyền... Những đêm trăng sáng, trai gái hò hẹn hát giao duyên, trao tình gửi ý và sau đó thành vợ thành chồng. Thể lệ hội làng thường do hội đồng Hương lý tổ chức, hoặc những hội làm nón dệt vải. Đấu võ, đấu vật thường tổ chức vào rằm tháng 7. Năm xóm thường cử đại diện để thi đấu nỗi danh đấu vật xưa là cụ Trần Kệ (Đoàn kệ), Trần Hoàng, tập tục truyền thống đó hiện nay vẫn duy trì. Trong kháng chiến và hoà bình lập lại, xã vẫn lập những đội văn nghệ, vừa sáng tác vừa tập luyện, tổ chức biểu diễn loại hình phong phú, đa dạng như kịch nói, hò vè, ngâm thơ, hát bội...Dân cư thôn Văn Phú có truyền thống đua thuyền vào những ngày lễ, ngày hội như: ‘Lễ xuống mùa’’, ‘‘lễ Nô En’’

            Mặc dù những cuộc di cư của các dòng họ tới đất Quảng Văn xuất phát từ nhiều miền quê ngoài vào, ngôn ngữ khác nhau. Người Thanh Hoá nói khác những người Nghệ An hay Hà Tĩnh. Song trong quá trình lao động cộng cư, hoà nhập, ăn chung, làm chung, cùng chung lưng đấu cật xây dựng và bảo vệ thôn quê, dần dần các ngôn ngữ thống nhất. Tuy vậy, vẫn có sự khác biệt chút ít giữa hai thôn La Hà và Văn Phú như dân La Hà thường lẫn và sai một số âm như con thì nói cơn (con Trâu thì nói là cơn Trâu) và ngược lại cơn rau thì nói là con rau, hay cây tre thì nói là cơn tre, hồi ấy thì nói là lúc nớ, sân thì nói cươi... vv.

Vào khoảng thế kỷ XV đến thế kỷ XVII, ở Quảng Văn đã có người học, nhưng trong xã không có trường, lớp, một số gia đình khá giả, hiếu học đã tự thuê thầy ở nơi khác về dạy, hay đi học nơi khác. Trong thời kỳ này con em của xã Quảng Văn cũng đã có một số dự thi hương và đậu tú tài, cử nhân. Nhưng đến cuối thế kỷ XVIII và hết thế kỷ XIX, việc học hành thi cử ở xã Quảng Văn phát triển rực rỡ.

      Số lượng học sinh của Quảng Văn đi học khá đông, điều kiện học hành rất khó khăn nhưng học sinh đã tìm mọi cách khắc phục để học, tự học, học ở bạn, học tại nhà. Các môn học trong thời kỳ phong kiến chủ yếu học về lý tưởng của nho giáo (tu nhân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ). Sách giáo khoa trong thời kỳ này có 2 loại: Sách do người Việt Nam soạn như  “Nhất thiên tự, Tam thiên tự, Ngũ thiên tự, Sơ học văn thâm, ấu học ngữ ngôn thi”. Sách do người Trung Quốc soạn như “Minh tâm bảo giám, Minh đạo gia huấn, tam tự kinh”.Những người được học ở trường Quốc tử giám (bậc đại học, các nho sĩ, đều bắt buộc học hai bộ sách cơ bản là ngũ kinh gồm: Kinh thư, Kinh thi, Kinh dịch, Kinh lễ và Kinh xuân thu, tứ thư gồm: Các loại sách luận ngữ, Mạnh tử, Trung dung và Đại học.

            Học và thi ở thời phong kiến do tiếp thu một khối lượng sách lớn mà phải thuộc lòng nên  đòi hỏi người học phải có trí nhớ tốt, thông minh mới đậu đạt. Việc thi cử phải tuân theo những quy tắc nghiêm ngặt. Điều đáng kỵ trong các bài thi là không được khiếm tỵ và phạm huý. (Câu chuyện đi thi của cụ Phạm Nhật Tân, làng La Hà, khi 16 tuổi cụ đi thi cùng với một nho sinh ở làng Lý Hoà-Bố Trạch thời vua Tự Đức. Bài của cụ đuợc Ban giám khảo chấm điểm cao hơn song do một từ phạm huý mà bị đánh trượt để cho anh nho sỷ làng Lý Hoà đạt giải nhất, cụ phải xuống hạng hai).

Chế độ thi cử thời phong kiến có hai chế độ thông dụng: Thi Hương (thi Tỉnh hay liên Tỉnh), người đậu kỳ thi hương được chia làm hai hạng: Cử nhân và tú tài (tương đương đại học và tú tài ngày nay). Những người đỗ đầu kỳ thi Hương gọi là Giải nguyên, những người đỗ kỳ thi Hương mới được vào thi Hội, đỗ kỳ thi Hội mới được vào thi Đình (thi Hội như là một kỳ sát hạch để thi Đình), người đỗ kỳ thi Đình gọi là tiến sĩ. Tiến sĩ được chia làm ba bậc gọi là tam giáp: Đệ nhất giáp, đệ nhị giáp, đệ tam giáp. Đệ nhất giáp được chia làm ba hạng (còn gọi là tam khôi). Hạng nhất là Trạng nguyên, hạng hai là Bảng nhản, hạng ba là Thám hoa, Người đứng đầu giáp thứ hai gọi là Hoàng giáp. Sau này nhà Nguyễn còn đặt thêm hiệu phó bảng cho những người đã được thi đậu kỳ thi Hội.

      Mặc dầu điều kiện kinh tế của vùng sông nước khó khăn, vất vả. Việc học hành khoa cử vào thế ký XVIII, XIX của chế độ phong kiến nói chung có nhiều xu hướng sa sút nhưng mỗi con người Quảng Văn, bằng sự nỗ lực cố gắng của bản thân và gia đình, thi đua đèn sách của các nho sĩ,việc học đã trở thành truyền thống của con em trong làng, cũng cần nói thêm rằng: Đất Quảng Văn nghèo nhưng hiếu học, điều này đã dẫn đến các thành tích khoa bảng làm cho người đời phải thán phục.

      Các kỳ thi triều Nguyễn, huyện Quảng Trạch có 15 vị đại khoa, riêng Quảng Văn có 6 vị, chiếm nhiều nhất trong huyện. Thống kê trong các kỳ thi Hương (có người Quảng Bình tham dự) từ năm Quý Dậu 1813 đến năm Mậu ngọ 1918, có 270 vị đỗ cử nhân, trong đó Huyện Quảng Trạch có 113 vị, xã Quảng Văn có 32 vị, cũng chiếm số lượng nhiều nhất so với các địa phương trong huyện.

      Với việc đỗ đạt của nhiều dòng họ như vậy có ý nghĩa rất lớn, vượt ra ngoài phạm vi của một xã, một huyện, một tỉnh. Việc chăm học hiếu học, dùi mài kinh sử của các thế hệ người dân La Hà, Văn Phú. Một làng quê nghèo khó cách đò trở giang, vượt qua nghèo khó, kiên trì chịu đựng, thi đua lẫn nhau trong dòng họ, giữa các dòng họ để học tập. Sự nghèo khó không làm nản chí, xao lòng các nho sĩ trong học hành, đó là nguồn cội xây đắp nên truyền thống khoa bảng của người dân Quảng Văn. Con cháu các dòng họ nay vẫn lưu truyền về đức tính hiếu học của cha ông mình như các bậc Tiến sĩ, cử nhân tiền bối: Tạ Hàm, Phạm Nhật Tân, Trần Thống, Trần chuẫn, Trần Khắc Hệ, Trần Khắc Mẫn, Trần Khắc Thân, Trần Khắc Khoan( Thôn La Hà ), Phạm Nhật Khánh, Phạm Hóa ( Thôn Văn Phú). Một số nho sĩ ngày xưa quá nghèo không có tiền mua giấy, mua dầu, chỉ đứng nghe trộm thầy giảng bài và tìm cách nhớ, hoặc lấy mo nang tre làm giấy viết. Đêm về bắt đom đóm bỏ vào bong bóng lợn để thay đèn ngồi học. Nhờ thế mà có người đã thi đậu  tiến sĩ, cử nhân. Sự kiên trì trong thi cử như cụ Trần Khắc Thận, thi 8 lần đều không đỗ cử nhân. Cụ là em trai của cụ Trần Khắc Mẫn (đậu làm quan đến chức án sát). Sau 7 lần đều trượt cử nhân, lần thứ 8 cụ Thận lại đi thi, Ông anh cử nhân án sát bảo rằng “Chú không có số đại khoa, bởi học tài thi phận". Nhưng cụ vẫn xin anh trai thi lại lần nữa, và lần thứ 8 cụ vẫn  đỗ tú tài. Sau đó triều đình xét thấy đức tính kiên nhẫn, hiếu học nên đặc cách cho đỗ cử nhân và bổ làm quan tri huyện và tặng cho câu đối rằng “Nhất cử thành danh thiên hạ hữu, bát khoa liên trúng thế gian vô” có nghĩa là: Thi cử một lần đỗ đạt ra làm quan thì thiên hạ có nhiều, còn thi 8 lần mà đỗ một bậc (bậc tú tài) thì thế gian chưa có.

Lịch sử “lều chõng” Quảng Bình dưới triều vua Tự Đức năm thứ tư (1851) trong kỳ thi Hội năm Tân Hợi đã ghi nhận một bảng vàng rực rỡ nhất cho Huyện Quảng Trạch là cả Tỉnh Quảng Bình  chỉ có 3 tiến sĩ mà Quảng Trạch chiếm cả 3, trong đó Quảng Văn chiếm 2 vị, hai vị đó là hai thầy trò cùng thi với nhau một lần, cùng đậu với nhau một khoa, điều mà các triều đại phong kiến ngày xưa cho là quý hiếm. Ba vị tiến sĩ ấy là: Nguyễn Văn Thành thôn Lộc Điền, Phạm Nhật Tân, Trần Văn Hệ, người thôn La Hà xã Quảng Văn. (Ông Phạm Nhật Tân là thầy dạy của ông Trần Văn Hệ, thầy năm ấy 41 tuổi, còn trò mới 24 tuổi ).         

            Một nét đặc sắc của nền văn hoá làng quê Quảng Văn ngày xưa nổi danh là hệ thống Đình, chùa, miếu thờ.

            Đình Làng La Hà được xây đầu thôn về phía Tây Nam của làng, hướng đình quay mặt về phía Tây-Nam trông về  núi Hòn Vắp, . Ngày xưa các cụ gọi là hướng “Long hồi-Hổ phục” vì trước cửa các miếu và đình Làng có một dòng nước hồi chảy về tụ đầu thôn và nhìn xa xa về phía núi Hòn Vắp giống như một con hổ đang nằm phục ngoảnh mặt về phía làng. là nơi giao hội của các nhánh sông Son, sông Nan và các nhánh nhỏ phân cách các cồn Nỗi, cồn Bông.

Toàn khuôn viên khu đình rộng 2.000m2, xây trên nền đất cao. Đình được xây vào năm 1859 do con cháu năm họ đại tôn dựng, lúc đầu đơn giản bằng tranh tre. Đến năm 1904 (năm Hoàng triều Minh Mạng)  cụ Trần Văn Thống (cụ Thượng Thống) đứng ra kêu gọi con cháu trong thôn và những người ở xa gửi tiền về tôn tạo, xây dựng lại đình kiên cố. Hai cột nanh (cột cổng) cao khoảng 10m, đường kính chân cột vuông, mỗi cạnh 1,2m, bốn phía ốp sứ có hoa văn và thuỷ tinh với nhiều màu sắc tạo thành những con rồng uốn lượn trong mây, trên đỉnh đắp hai con nghê chầu hai bên, đứng từ xa  cách hàng chục cây số vẫn thấy hai cột nanh của đình La Hà. Trước sân đình có một bình phong chắn giữa cổng, mặt trước bức bình phong là con voi chầu, giữa lưng voi có hoa văn xanh đỏ (tượng trưng cho bành voi), phía sau bình phong có một lư hương để đốt vàng bạc khi cúng tế trong đình, hai bên bức bình phong có hai con ngựa chầu hai bên. Bình phong có mái che, trên mái được trang trí hình rồng. Đình làng có hai cột cờ về hai phía của bức bình phong. Sở dĩ có hai cột cờ là do làng có nhiều nhân vật có công vì nước nên được vua ban hai lá cờ, khi tổ chức lể hay rước sắc thì hai lá cờ được kéo lên.

Hai bên cổng chính có hai cổng phụ, mỗi cổng có hai trụ biểu nhỏ có hai con nghê trên đỉnh chầu vào nhau, cổng xây vòm cong có mái che. Sân đình lát gạch, trước cửa đình có hai cây phượng vĩ, sát tường thành có hai cây đa, Đình có hàng rào xây bao quanh. Đình chính có 5 gian, 3 gian chính, 2 gian  hồi. Kiến trúc đình thôn La Hà lấy mẫu từ Đình thôn Chợ Nhượng (Hà Tĩnh), từ chủng loại gỗ đến cách bài trí chạm trổ và quy mô thì đình thôn La Hà to hơn và thuộc loại đồ sộ, đẹp nhất vùng Quảng Trạch.

      Gỗ cất đình toàn gỗ lim, cột cái có đường kính rất lớn, cột cao 5,6m. Ba gian giữa, từ xuyên, xà, kèo đều uốn lượn và chạm trổ khá công phu. Trong hai vài chái có hai bộ sập, một bộ 5 lá dài bằng chiều rộng đình, dùng để dân thôn ngồi họp nhóm. Gian dưới cùng có treo một chiếc chuông đồng nặng 300kg khi đánh tiếng vang lên bay xa nhiều cây số, chiếc chuông này không rõ ai đúc. Đến năm binh hoả, giặc Pháp lên càn và cướp đem về treo ở nhà thờ Đơn Sa, hiện nay không rõ tung tích.

      Ba dãy cột trong đình đều treo các câu đối, trên thượng lương gian giữa có treo bức hoành phi với ba chữ lớn (Hoà-Thả-Bình). Theo lưu truyền của các cụ ngày xưa giải thích nghĩa của ba chữ bức hoành phi trên là “Dân trong làng phải hoà thuận, đoàn kết tất mang lại sự bình an, thịnh vượng cho dân làng”. Tất cả các câu đối và hoành phi đều được sơn son thiếp vàng.

      Gian giữa là hệ thống thờ tự khá quy cũ và uy nghiêm, từ ngoài vào có hai con hạc bằng đồng to lớn đứng trên hai con rùa chầu. Hai bên là hai hàng khí giới và bút lông tượng trưng cho quan Văn và quan Võ. Trên án thờ có hai giá đỡ chạm trổ khá kỳ công, hai bên bệ thờ có hai lọng cắm 4 tàn che.

      Ba gian chính có 3 bệ thờ, ở giữa thờ Đức Thành hoàng bản thổ, bên hữu thờ quan văn, bên tả thờ quan võ, mái đình lợp ngói vẫy, nóc lượn hình cong và đắp biểu tượng “lưỡng Long châu nguyệt”.

      Từ đình chính vào đình hậu có hai cửa thông hai bên. Đình hậu xây liền với đình chính, đình hậu cũng có 3 gian, cột, kèo, vài và xuyên làm bằng gỗ lim nguyên cây, cả ba gian đều có bệ thờ xây bằng gạch đá.

      Năm 1962 do ảnh hưởng của chiến tranh và thiên nhiên, Đình làng bị dỡ bỏ, một số kèo, cột xẻ làm trường học, số còn lại bị hư hỏng. Thời kỳ chiến tranh phá hoại ác liệt của giặc Mỹ, khu vực đình, miếu thờ tiến sĩ, máy bay Mỹ ném bom huỷ hoại gần hết, toàn bộ đình chính, tường rào bao quanh, hai cột nanh, bình phong, cột cờ không còn nữa. Hiện tại chỉ còn lưu lại bộ đá tảng chân cột, móng của tường thành và hai cột trụ biểu, hậu đình hiện nay vẫn còn, nhưng bị xuống cấp nhiều, do bom đạn Mỹ trong chiến tranh và sự huỷ hoại hàng ngày của thời tiết khắc nghiệt, mưa gió bão lụt, nắng hạn... Hiện nay, chính quyền địa phương đã cho tu sửa lại song do nguồn kinh phí còn hạn hẹp nên việc nâng cấp, tu sửa Đình còn gặp khó khăn.

            Đình làng thôn Văn Phú được xây dựng vào đầu thế kỷ XIX, Đình nhỏ ba gian, cấu trúc đơn giản, có diện tích 65m2. Hệ thống thờ tự như những đình khác. Đình hướng Tây-Nam, được xây dựng ở khu đất cao đầu thôn. Thời kỳ chiến tranh chống Pháp, Đình bị phá, sau hoà bình lập lại, khu vực đình được chọn làm trường học cho các em ở khu vực B Trường tiểu học số II Quảng Văn.

      Người dân thôn Văn Phú phần lớn theo Đạo Thiên chúa nên các gia đình, dòng họ không lập bàn thờ nhà thờ họ, mà cầu nguyện chung ở nhà thờ xứ đạo. Nhà thờ còn là nơi đi lễ cầu kinh vào các ngày lễ chủ nhật. Nhà thờ Văn Phú được xây dựng vào năm 1870, tôn tạo lại vào năm 1989, quay ra mặt sông, kiến trúc mang sắc thái của nhà thờ thiên chúa giáo ở Việt Nam. Cột thập tự hướng về phía đông, gian chính dùng để các con chiên hành lễ và cầu kinh, nhà thờ có các gian cầu nguyện, xưng tội. Là nhà thờ nhỏ nên cấu trúc chủ yếu để làm lễ cầu nguyện, không có hệ thống nhà cho các xơ và trưởng dòng. Vào những ngày lễ Đức mẹ giáng sinh, lễ tạ ơn, lễ đấng chúa cứu thế... Người dân của thôn Văn Phú đến nhà thờ và tổ chức các lễ hội trọng thể theo truyền thống.

            Một số cư dân theo đạo phật đó là con cháu họ Phạm và họ Hồ. Các nhà thờ hai họ này chủ yếu tại gia đình. Phía đầu thôn (Khu vực nhà trường TH số II) còn lưu lại quần thể miếu thờ Thành Hoàng  của họ Hoàng, họ Phạm. Hiện con cháu đi làm ăn xa hàng năm tổ chức về làm lễ giổ tổ tại quần thể miếu thờ của họ Hoàng, họ Phạm.

            Thôn La Hà có nhiều nhà thờ họ, các ông thuỷ tổ của dòng họ vào làm ăn lúc đầu họ chỉ chọn gia đình ông trưởng để thờ họ mình, dần dần con cháu đông và đặc biệt sau khi xây dựng đình thôn thì các họ bắt đầu xây dựng nhà thờ riêng của họ mình.

      Vị trí xây dựng các nhà thờ họ có sự sắp xếp trật tự. Họ Mai (nậy) chọn khu vực xóm Trung để dựng nhà thờ họ. Họ Phạm chọn làm nhà thờ ở xóm Đình (nay ông Nam Mẹo ở), hướng nhà thờ ngoảnh ra phía họ Mai. Họ Trần dưới chọn làm nhà thờ ở cuối xóm Trung (nhà ông Phùng). Họ Trần Côi chọn làm nhà thờ ở xóm Tây-Bắc, khu vực đồng Biền (đầu thôn) quay mặt hướng Đông. Họ Tạ chọn làm nhà thờ xóm Bắc quay mặt hướng Nam. Các họ Trần con làm nhà thờ ở xóm Tây, hướng quay mặt về phía Tây-Nam. Trước đây khi chưa có các họ con, có thể do ước định, người khai phá ra vùng đất La Hà trước tiên (họ Mai) được sắp xếp ở giữa trung tâm, 4 họ khác bố trí 4 hướng ngoảnh vào họ Mai. Khi tế lễ thì họ Mai xướng trước, các họ khác xướng sau.

      Về quy mô, các nhà thờ họ thì họ Trần dưới và họ Trần Côi được làm với quy mô lớn hơn cả, chạm trổ hoa văn cũng tinh xảo hơn, có cổng, hàng rào bao quanh. Kiến trúc các nhà thờ họ đều có mái dốc, cửa thấp, 4 gốc mái uốn lượn cong và lợp ngói vẫy, trên đỉnh nóc có hai con rồng chầu vào mặt trăng, thế ‘’Lưỡng long chầu nguyệt’’. Các nhà thờ của các họ nhỏ cũng có kiểu kiến trúc như trên, nhưng với quy mô nhỏ hơn. Tuỳ theo nề nếp và hướng tâm của các họ, mỗi họ đều chọn cho mình các bức hoành phi và câu đối treo ở nhà thờ để tôn vinh dòng họ và khuyên con cháu đời sau giử gìn cội nguồn tổ tiên, kế thừa sự nghiệp vinh quang của cha ông.

      Thôn La Hà, gần khu vực đình có một quần thể miếu thờ, trong đó miếu thờ lớn nhất là miếu Tam Quan, miếu Thành Hoàng, miếu thờ Đại càn, 9 miếu thờ quan đỗ đạt, được vua phong sắc và rước về thờ ở thôn. Phía Đông đình có miếu Thánh võ, miếu thờ họ Dương, họ Nguyễn (vô tự). Trước cửa đình chính phía Tây, phía đông nam đều có điếm canh, xóm voi có miếu thờ Xích đế. Phía Tây bắc có miếu thờ Thích đế. Phía Đông-Bắc có miếu thờ Hắc đế. Miếu ở bến đò qua Ba Đồn thờ Tả quận công, hai miếu thờ ở đồng biền thờ Quận công.

Tác giả bài viết: Trần Tuấn Anh

Nguồn tin: LỊCH SỬ ĐẢNG BỘ XÃ QUẢNG VĂN ( 1930-2000 )

Từ khóa: Xã Quảng Văn, La Hà
phamquangvu- - 23/10/2011 09:23
bbt xemn lai tien si tran van he hay tran dinh he
thanhlamqb- - 26/10/2011 19:04
Trần Văn Hệ (1828-1888) người xã La Hà tổng Thuận Thị huyện Minh Chính phủ Quảng Trạch tỉnh Quảng Bình (nay thuộc xã Quảng Văn huyện Quảng Trạch tỉnh Quảng Bình). Cử nhân năm Canh Tuất (1850). Ông giữ các chức quan, như Hàn lâm viện Biên tu, Tri phủ Ba Xuyên, Hàn lâm viện Thị độc, Hàn lâm viện Thị độc Học sĩ, Thự Bố chánh Hà Nội, Thương biện Quảng Bình. http://www.hannom.org.vn/detail.asp?param=1219&Catid=562
Bạn cần đăng nhập thành viên để sử dụng chức năng này

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn