12:02 ICT Thứ tư, 16/10/2019

Giới thiệu»Quảng Văn ngày nay

Nhân dân Quảng Văn với phong trào đấu tranh cách mạng 1930- 1954

Thứ tư - 16/02/2011 20:51
Các hoạt động yêu nước và phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân Quảng văn trước, trong và sau cách mạng tháng tám 1945. Sự ra đời của tổ chức đảng lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống thực dân pháp xâm lược (1930-1954 ).

 

     Ngày 31/8/1858, thực dân Pháp cho hạm tàu và 3.000 quân kéo tới cửa biển Đà Nẵng. Sáng 2/9/1859, quân Pháp tấn công đánh chiếm Đà Nẵng. Điều ước 6/6/1884 giữa thực dân Pháp và Triều đình phong kiến Việt Nam được ký kết. Điều đó chứng tỏ chế độ phong kiến Việt Nam đã bước vào giai đoạn suy vong.

     Tuy vậy, trong triều đình Huế có một bộ phận vẫn có tinh thần yêu nước, phản đối sự hèn nhát, đầu hàng của Triều đình, bộ phân đó gọi là phái phản chiến, đứng đầu là Tôn Thất Thuyết thượng thư Bộ binh. Rạng 5/7/1885, phái chủ chiến tấn công Pháp ở đồn Mang Cá và khách sạn Sông Hương, do lực lượng hai bên không cân sức, trận tập kích bị bại, Tôn Thất Thuyết cùng vua Hàm Nghi và đoàn xa giá rút khỏi thành Huế  lên vùng Tân Sở miền Tây Quảng Trị, hạ chiếu Cần Vương kêu gọi sĩ phu và nhân dân chống Pháp xâm lược.

     Hưởng ứng phong trào “Cần Vương”, khắp cả nước dấy lên tinh thần chống thực dân Pháp. Trên địa bàn Tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh có phong trào của các văn thân sĩ phu yêu nước như Phan Đình Phùng, Đoàn Chí Tuân, Mai Lượng, LêTrực, Nguyễn Phạm Tuân... ở Quảng Trạch tiêu biểu là các đội nghĩa binh của Lê Trực, Mai Lượng, Mai Hữu Tập.

      Sẵn có tinh thần yêu nước, yêu quê hương cùng ý chí chống giặc cứu nước nên khi có phong trào khởi nghĩa của Phan Đình Phùng và Lê Trực tại Quảng Văn có ông Mai Hữu Tập đã chiêu mộ thanh niên có tinh thần chống giặc, những người khoẻ mạnh, tập hợp thành đội quân trong thôn, luyện tập võ nghệ, xây lò rèn, sản xuất vũ khí, gươm giáo để trang bị cho quân sĩ. (Hiện nay dấu tích của các lò rèn còn gọi là cồn đất lò rèn nơi Mai Hữu Tập cùng quân sĩ rèn, đúc vũ khí.)

     Những hoạt động của nghĩa quân trong thời gian này rất mạnh. Cuối năm 1884 đội quân của ông đã tổ chức đánh bọn Việt gian thân Pháp ở vùng Giáp Tam, Văn Phú, Quảng Phúc (Đơn Sa). Thực dân Pháp ra sức chia rẽ lương giáo, lôi kéo và hỗ trợ một số phần tử xấu ở các thôn theo đạo Thiên Chúa ven Sông Gianh tổ chức một đợt phản công đội quân Mai Hữu Tập tại thôn La Hà vào đêm 29 sáng 30 tháng 12 năm 1884 (âm lịch). Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt trước cửa Đình thôn La Hà. Đội quân của Mai Hữu Tập và đội phó Trần Văn Trí đã chiến đấu rất dũng cảm. Song do lực lượng không cân sức nên nghĩa quân của Ông đã hy sinh gần một nữa, trong đó có phó đội Trần Văn Trí đã anh dũng hy sinh. Trong tình thế bất lợi, để bảo toàn lực lượng và tính mạng của cải cho nhân dân, nghĩa quân được lệnh rút lui. Ông Cai Tầm (Trần Văn Tầm) lúc này có một chiếc ghe đi buôn đường biển khá lớn đã quay ngang thuyền làm cầu cho nghĩa quân rút lui qua sông tản lên vùng núi Thọ Linh (Quảng Sơn). Nghĩa quân chỉ để lại một lực lượng cảm tử vừa chiến đấu kìm quân địch vừa rút lui. Giặc Pháp và bọn Việt gian phản động thiên chúa giáo đã tiến hành đốt phá, trả thù man rợ, giết người, cướp của, hảm hiếp phụ nữ một cách tàn bạo. Quân giặc đã cướp chiếc chuông đồng nặng 300kg ở đình thôn đem về treo tại nhà thờ Đơn Sa xã Quảng Phúc. Xác những chiến sĩ và nhân dân chết, chúng không cho chôn cất. Mãi sau gần hai tuần, giặc rút người dân La Hà mới trở về chôn cất người thân bị giết, dựng nhà tạm để ở. Trận chiến đẩm máu cuối năm 1884 đầu năm 1885 được nhân dân La Hà ghi vào trí nhớ của mình với một nỗi đau và một ý chí  căm thù giặc Pháp, Việt gian bán nước sâu sắc. Đó là sự kiện năm “Binh hoả”. Phong trào "Cần Vương" thất bại, phong trào yêu nước nói chung và ở Quảng Văn nói riêng có lắng xuống.

          Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, đặc biệt là những năm cuối của thập kỷ XX, phong trào trong Tỉnh, trong Huyện và ở Quảng Văn có những biến chuyển mới. Những thanh niên yêu nước ở Quảng Văn đã tiếp xúc với các nho sĩ yêu nước, tiêu biểu là anh cả Hoài (con cụ Thượng Thống), mặc dù cha làm quan thượng thư của triều đình nhà Nguyễn nhưng anh vẫn quan hệ với các tổ chức yêu nước, cách mạng trong Tổng. Đã nhiều lần Pháp yêu cầu cụ nên khuyên bảo anh từ bỏ những hoạt động trên. Nhưng anh vẫn không thực hiện lời khuyên của cha. Giặc Pháp dụ anh về làm quan cho triều đình phong kiến anh trả lời “Khi nào mấy thắng mũi lõ về nước, Con mới làm quan” và Anh vẫn tìm mọi cách liên lạc, gặp những chiến sĩ yêu nước. Địch phục kích vây ráp đuổi Anh giữa cánh đồng Quảng Hoà và Quảng Minh mới bắt được Anh. Địch tra khảo, đánh Anh thương tật. Anh đã hi sinh vào những năm sau đó. (Tư liệu do cụ Trần Dự Trâm và Trần Khắc Đàn cung cấp). Tinh thần yêu nước và hành động  kiên cường của Anh đã thúc đẩy nhiều thanh niên xã Quảng Văn tìm đường đến với cách mạng.

   Vào những năm 1929-1930 tại thôn Văn Phú, xã Quảng Văn đã có nhiều thanh niên tiến bộ, sớm tiếp thu lý luận cách mạng và hoạt động trong các tổ chức Cộng sản ở Nam Kỳ.

  Ngày 3/2/1930 Đảng cộng sản Việt Nam thành lập đánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Dân tộc Việt Nam, cách mạng Việt Nam từ đây đã có người cầm lái, có người chỉ lối, đưa đường. Ngay sau khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, toàn Quốc đã dấy lên phong trào cách mạng sôi động, mà đỉnh cao là "Xô Viết-Nghệ Tỉnh". Vào thời gian này những thanh niên thôn Văn Phú xã Quảng Văn  đã hoạt động tích cực trong phong trào cách mạng ở Nam Kỳ, như đồng chí Phạm Trân hoạt động trong phong trào cách mạng An nam Cộng sản Đảng và được kết nạp vào Đảng cộng Sản Việt Nam cuối năm 1930, hoạt động trong tổ chức xứ uỷ Nam kỳ. Năm 1931 đồng chí đã hy sinh anh dũng trong một trận càn ở Sài Gòn. Hiện còn lưu bia tưởng niệm của xứ uỷ Nam Kỳ tại nhà thờ họ Phạm, thôn Văn Phú.

     Với sự nới rộng dân chủ ở Đông Dương sau khi Chính phủ bình dân của Pháp lên cầm quyền, ở nước ta vào những năm 1936-1939 mặt trận dân chủ phản đế Đông Dương ra đời, phong trào cách mạng Việt Nam lại phát triển lên một bước mới, Đảng cộng sản Đông Dương đã đưa các đảng viên về hoạt động gây dựng lại phong trào cách mạng ở cơ sở, xây dựng lực lượng chính trị ở khắp nơi. Trong thời gian này xứ uỷ Trung Kỳ cử cán bộ về hoạt động xây dựng lực lượng ở vùng Quảng Trạch.

          Nối tiếp truyền thống cách mạng của các vị tiền bối, tại Quảng Văn trong những năm 1936-1940  có nhiều thanh niên yêu nước hoạt động cách mạng từ nước ngoài về hoặc từ Sài Gòn ra đã  tuyên truyền, vận động thanh niên trong xã, trong huyện để xây dựng lực lượng cách mạng như đồng chí Hoàng Dần, Phạm Giang Hồ… Sau cách Mạng tháng tám năm 1945 các đồng chí này đã trở thành cán bộ chủ chốt của Huyện và của Tỉnh.

          Trong những năm 1940-1945, nhiều học sinh Quảng Văn được giác ngộ tinh thần yêu nước qua các thầy giáo như thầy Nam, thầy Mỹ, thầy Khâm. Bằng những bài giảng, bài nói chuyện ban đêm. Lòng yêu quê hương đất nước, tinh thần cách mạng thấm dần trong học sinh, nhiều thanh niên yêu nước đã hoạt động trong các phong trào cách mạng xứ uỷ Trung Kỳ và đã được kết nạp vào Đảng cộng sản Đông Dương, hoạt động mạn Bố Trạch và trở thành những cán bộ chủ chốt của huyện Bố Trạch như Đồng chí Trần Kiểu, đồng chí Trần Châu, đồng chí Trần Trọng Cách, đồng chí Trần Vi, đồng chí Trần Thiệt (Bí thư Huyện uỷ Bố Trạch). Đây là những hạt giống đỏ gây mầm cho phong trào cách mạng của quê hương Quảng Văn trong những năm trước 1945. Với bầu nhiệt huyết cách mạng trẻ trung của các đồng chí  cán bộ tiền khởi, được Đảng cấp trên phái về hoạt động xây dựng phong trào tại vùng Quảng Trạch trong đó có Quảng Văn, tích cực về tuyên truyền đường lối cách mạng và xây dựng tổ chức, chuẩn bị mọi điều kiện cho tổng khởi nghĩa tháng tám 1945.

          Đến đầu năm 1945 một khí thế mới chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa cách mạng đã nung nấu trong các tầng lớp thanh niên, nhân dân. Quảng Văn đã thành lập được một đội thanh niên, học sinh cứu quốc làm nhiệm vụ  trực chèo đò đưa, đón các đồng chí cán bộ cách mạng từ mạn Bố Trạch về hoạt động vùng Quảng Trạch và ngược lại từ Quảng Trạch đi Bố Trạch, lên Tuyên Hoá.Vận động nhân dân trong xã chuẩn bị biểu tình, tham gia cùng nhân dân trong các xã vùng Nam Quảng Trạch cũng như toàn Huyện sang cướp chính quyền ở huyện đường Ba Đồn. Ngày 22/8/1945, lực lượng vũ trang tự vệ kết hợp với nhân dân các nơi như: Trung Thuần, Trung Thôn, Thanh Thuỷ, Quảng Thuận, Tân Phong, Lũ Phong... kéo về phủ Quảng Trạch cướp chính quyền khí thế dậy trời, cờ đỏ sao vàng phấp phới trên khắp nẻo đường thôn xóm. Nhân dân Quảng Văn phấn khởi cùng  nhiều xã khác cử một đội thanh niên xung kích sang tham gia cướp chính quyền ở Huyện đường.

          Ngày 23/8/1945 cụ Hoàng Dần (thôn Văn Phú)  cán bộ Mặt trận của Huyện về dự lễ mít tin tại trường cấp 1 Quảng Văn, tuyên bố với toàn thể nhân dân Quảng Văn, chính quyền Nhà Nước đã về tay cách mạng. Ông Trần Mỹ (cữu Mỹ)Chủ tịch UB lâm thời xã Hà Văn được cử đọc bản tuyên ngôn độc lập của Hồ Chủ Tịch trước toàn thể nhân dân xã Quảng Văn và đọc quyết định thành lập Uỷ ban lâm thời xã Hà Văn do ông Trần Đình Nghi làm Chủ tịch. Ông Trần Liên làm Thư ký, ông Trần Lữu làm ban viên. Lý trưởng Trần Nhuận bị bắt ở Ba Đồn, ông phó Lữu giao triện cho Uỷ ban nhân dân lâm thời của xã.

          Trước diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và trong nước, vấn đề xây dựng củng cố chính quyền là một trong những chủ trương quan trọng của Đảng, tiến tới sự ra đời của hiến pháp, nhằm đảm bảo tính hợp hiến và hợp pháp của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

         Hưởng ứng ngày bầu cứ Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà, nhân dân xã Quảng Văn nô nức đi bỏ phiếu thực hiện quyền công dân của nước Việt Nam độc lập, bầu Quốc hội nước Việt Nam do chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Được sự chỉ đạo của cấp trên, xã Quảng Văn tiến hành bầu cử Hội đồng Nhân dân xã, gồm có 8 thành viên, do đồng chí Trần Quýnh làm chủ tịch ủy ban nhân dân xã   Hội đồng lập các ban kinh tế nông nghiệp, thông tin thể thao, bình dân học vụ, ban liên lạc...

  Sau ngày 6/3/1946 thôn Văn Phú, Thôn La Hà, Thôn Giáp Tam nhập làm một gọi là xã Hà Châu. Lập uỷ ban hành chính kháng chiến xã Hà Châu gồm 7 đồng chí:

Trần Quýnh, Chủ tịch.

Ông Trần Khâm,  Phó Chủ tịch.

Ông Trần Lửu, Chánh văn phòng.

Ông Trần Đề, Công an.

Ông Trần Tưu,  Uỷ viên phụ trách quân sự.

Ông Trần Liên, Uỷ viên phụ trách kinh tế.

Ông Hoàng Đình Trọng, Uỷ viên phụ trách thôn Văn Phú và công giáo.

 
          Dưới sự lãnh đạo của Uỷ ban hành chính kháng chiến,Quảng Văn được ổn đình chính trị, khôi phục kinh tế như tiếp tục phát triển  nghề thủ công truyền thống, khôi phục đồng ruộng và phát triển nông nghiệp, ngư nghiệp, đẩy mạnh phong trào văn hoá, giáo dục, đặc biệt là phong trào học bình dân học vụ. các nhiệm vụ an ninh ,quốc phòng được chú trọng, chuẩn bị mọi điều kiện để cùng cả nước bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam .

Tác giả bài viết: Trần Tuấn Anh

Nguồn tin: LỊCH SỬ ĐẢNG BỘ XÃ QUẢNG VĂN ( 1930-2010 )

Từ khóa: n/a
Lê Thi Thủy- - 06/03/2011 23:28
Tình cờ vô trúng web làng miềng, mừng quá, Đề nghị admin đưa nhiều thông tin lên cho bà con xem. Rất cảm ơn các bạn
ngà- - 07/06/2013 23:57
có ai có số liệu hay là bài viết gì về người cao tuổi của xã Quảng Văn mình không? post lên cho mình xem và tham khảo với
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn